Bản tin Hội Dòng Thứ Bảy, 11/07/2026 --:--:--
Lịch hôm nay Thứ Bảy tuần XIV Mùa Thường Niên · Mùa Thường Niên · Màu Xanh lá
HỘI DÒNG Khiết Tâm Đức Mẹ Nha Trang
Thứ Bảy tuần XIV Mùa Thường Niên Sống hôm nay thật tốt là lời cầu nguyện đẹp. — Theo Thánh Phanxicô Salêsiô
Phụng vụ hôm nay Đăng lúc 11/07/2026 15:05 · 6 lượt xem

Chúa nhật 15 Thường niên năm A (Mt 13,1-23)

Chúa nhật 15 Thường niên năm A (Mt 13,1-23)
Chúa nhật 15 Thường niên năm A (Mt 13,1-23) TGM Giuse Nguyễn Năng & các tác giả

TGM Giuse Nguyễn Năng & các tác giả

“Hạt gieo trên đất tốt, là kẻ nghe lời giảng mà hiểu được,

nên sinh hoa kết quả đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi”. (Mt 13,23)

Đây Chúa phán: “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn, cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác”.

ĐÁP CA: Tv 64, 10abcd. 10e-11. 12-13. 14

Đáp: Hạt giống rơi vào đất tốt, và sinh hoa kết quả (Lc 8, 8).

1) Chúa đã viếng thăm ruộng đất và tưới giội: Ngài làm cho đất trở nên phong phú bội phần. Sông ngòi của Thiên Chúa tràn trề nước, Ngài đã chuẩn bị cho thiên hạ có lúa mì. - Đáp.

2) Vì Ngài đã chuẩn bị như thế này cho ruộng đất: Ngài đã tưới giội nước vào những luống cày, và Ngài san bằng mô cao của ruộng đất. Ngài làm cho đất mềm bởi thấm nước mưa; Ngài chúc phúc cho mầm cây trong đất. - Đáp.

3) Chúa đã ban cho một năm hồng ân, và lốt xe ngự giá của Ngài khơi nguồn phong phú. Đống đất hoang vu có nước chảy đầm đìa, và các đồi núi vận xiêm-y hoan hỉ. - Đáp.

4) Đồng ruộng đông chật những đàn chiên dê, và các thung lũng được che lợp bằng ngũ cốc; muôn loài đều hát xướng và hoan ca. - Đáp.

“Các tạo vật ngóng trông sự mạc khải của con cái Thiên Chúa”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tôi nghĩ rằng những đau khổ ở đời này không thể sánh với vinh quang sắp tới sẽ được mạc khải cho chúng ta. Vì chưng các tạo vật ngóng trông sự mạc khải của con cái Thiên Chúa. Các tạo vật đã phải tùng phục cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn như vậy, nhưng vì Đấng đã bắt nó phải tùng phục với hy vọng là các tạo vật sẽ được giải thoát khỏi vòng nô lệ sự hư nát, để được thông phần vào sự tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa. Vì chúng ta biết rằng cho đến bây giờ, mọi tạo vật đều rên siết và đau đớn như người đàn bà trong lúc sinh con. Nhưng không phải chỉ có các tạo vật, mà cả chúng ta là những kẻ hưởng ơn đầu mùa của Thánh Thần, chúng ta cũng rên siết trong khi ngóng chờ phúc làm nghĩa tử và ơn cứu độ thân xác chúng ta.

Ngày ấy, Chúa Giêsu ra khỏi nhà và đi đến ngồi ở ven bờ biển. Dân chúng tụ tập quanh Người đông đảo đến nỗi Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. Và Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều.

Người nói: “Này đây, có người gieo giống đi gieo lúa. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi. Ai có tai thì hãy nghe”.

Các môn đệ đến gần thưa Người rằng: “Tại sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ?” Người đáp lại: “Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết. Vì ai đã có, thì ban thêm cho họ được dư dật; còn kẻ không có, thì cái họ có cũng bị lấy đi. Bởi thế, Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết. Thế mới ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói về họ rằng: “Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành”. Phần các con, phúc cho mắt các con vì được thấy; và phúc cho tai các con vì được nghe. Quả thật, Thầy bảo các con: Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công chính đã ao ước trông thấy điều các con thấy, mà không được thấy; mong ước nghe điều các con nghe, mà không được nghe.

“Vậy, các con hãy nghe dụ ngôn về người gieo giống: Kẻ nào nghe lời giảng về Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp lấy điều đã gieo trong lòng nó: đó là kẻ thuộc hạng gieo dọc đường. Hạt rơi trên đá sỏi là kẻ khi nghe lời giảng, thì tức khắc vui lòng chấp nhận, nhưng không đâm rễ sâu trong lòng nó, đó là kẻ nông nổi nhất thời, nên khi cuộc bách hại, gian nan xảy đến vì lời Chúa, thì lập tức nó vấp ngã. Hạt rơi vào bụi gai, là kẻ nghe lời giảng, nhưng lòng lo lắng việc đời, ham mê của cải, khiến lời giảng bị chết nghẹt mà không sinh hoa kết quả được. Hạt gieo trên đất tốt, là kẻ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết quả đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi”.

Bài giảng của linh mục Ignatiô Hồ Văn Xuân

Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 15 Thường niên năm A

WHĐ (14/7/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của các lễ Chúa nhật 15 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.

Số 546: Đức Kitô dạy qua các dụ ngôn

Số 1703-1709: Khả năng nhận biết và sống phù hợp với tiếng gọi của Chúa

Số 2006-2011: Thiên Chúa liên kết con người trong hoạt động của ân sủng

Số 1046-1047: Sự sáng tạo một phần của vũ trụ mới

Số 546: Đức Kitô dạy qua các dụ ngôn

546.Chúa Giêsu kêu gọi người ta vào Nước Trời, bằng cách dùng các dụ ngôn, là nét đặc trưng trong cách giảng dạy của Người [1] . Qua các dụ ngôn, Người mời vào dự tiệc Nước Trời [2] , nhưng Người cũng đòi phải có một lựa chọn triệt để: để đạt được Nước Trời, cần phải cho đi mọi sự [3] ; lời nói suông không đủ, cần phải có việc làm [4] . Các dụ ngôn như những tấm gương đối với con người: họ đón nhận Lời Chúa chỉ như mảnh đất khô khan hay mảnh đất mau mỡ? [5] Họ làm gì với những nén bạc đã nhận? [6] Chúa Giêsu và sự hiện diện của Nước Trời trong trần gian, một cách kín đáo, nằm ở trung tâm của các dụ ngôn. Cần phải tiến vào Nước Trời, nghĩa là, phải trở nên môn đệ Đức Kitô, mới “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13,11). Còn đối với những kẻ “ở ngoài” (Mc 4,11), mọi sự đều bí ẩn [7].

Số 1703-1709: Khả năng nhận biết và sống phù hợp với tiếng gọi của Chúa

1703. Được phú ban một linh hồn thiêng liêng và bất tử [8] , nhân vị là “thụ tạo duy nhất nơi trần thế mà Thiên Chúa đã muốn vì chính nó” [9] . Ngay từ lúc tượng thai của mình, nhân vị được định hướng tới vinh phúc vĩnh cửu.

1704. Nhân vị được tham dự vào ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa. Nhờ lý trí, nó có khả năng để hiểu biết trật tự muôn loài do Đấng Tạo Hoá thiết lập. Nhờ ý chí, nó có khả năng để hướng mình tới điều thiện hảo thật của mình. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực [10] .

1705. Vì có linh hồn và các tài năng tinh thần là lý trí và ý chí, con người được phú ban sự tự do, là “dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh” [11] .

1706. Nhờ lý trí, con người nhận ra tiếng Thiên Chúa thúc đẩy mình “làm điều tốt và tránh điều xấu” [12] . Mỗi người phải vâng theo lề luật này, một lề luật đang vang vọng trong lương tâm, một lề luật được chu toàn trong sự mến Chúa yêu người. Việc thực thi đời sống luân lý chứng tỏ phẩm giá của nhân vị.

1707. “Tuy nhiên, ngay từ lúc khởi đầu lịch sử, con người bị thần Dữ cám dỗ, nên đã lạm dụng tự do của mình” [13] . Họ sa chước cám dỗ và làm điều xấu. Con người vẫn còn khát khao điều tốt, nhưng bản tính con người đã mang vết thương của nguyên tội. Con người trở thành bị nghiêng chiều về điều xấu và dễ bị sai lầm:

“Con người đã bị chia rẽ trong chính bản thân mình. Vì vậy, toàn bộ đời sống con người, cả cá nhân cả tập thể, đều biểu hiện như một cuộc chiến bi thảm, giữa điều tốt và điều xấu, giữa ánh sáng và tối tăm” [14] .

1708. Bằng cuộc khổ nạn của Người, Đức Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi Satan và tội lỗi. Người lập công cho chúng ta có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Người phục hồi những gì tội lỗi đã làm hư hỏng nơi chúng ta.

1709. Ai tin vào Đức Kitô thì trở nên con cái Thiên Chúa. Ơn được làm nghĩa tử này biến đổi người ấy, giúp họ sống theo mẫu gương Đức Kitô. Ơn này ban cho họ khả năng hành động đúng đắn và thực thi điều tốt. Được kết hợp với Đấng Cứu độ của mình, người môn đệ đạt tới sự trọn hảo của đức mến, là sự thánh thiện. Được hoàn thiện trong ân sủng, đời sống luân lý sẽ được triển nở thành sự sống vĩnh cửu trong vinh quang trên trời.

Số 2006-2011: Thiên Chúa liên kết con người trong hoạt động của ân sủng

2006. Từ “công trạng” thường được dùng để chỉ sự trả công mà cộng đồng hay xã hội đánh giá hành động của một thành viên của mình, xét như điều đó tốt hay xấu, đáng được thưởng hay bị phạt. Công trạng thuộc về nhân đức công bằng theo nguyên tắc về sự bình đẳng, là nguyên tắc chi phối nhân đức đó.

2007. Trước mặt Thiên Chúa, theo nghĩa hẹp về quyền lợi, con người không có công trạng gì. Giữa Thiên Chúa và chúng ta có sự bất bình đẳng không thể đo lường, bởi vì chúng ta đón nhận mọi sự từ nơi Ngài, là Đấng Tạo Hoá của chúng ta.

2008. Công trạng của con người trước mặt Thiên Chúa trong đời sống Kitô hữu là do Thiên Chúa đã tự ý muốn liên kết con người với công trình của ân sủng của Ngài. Hành động đầy tình phụ tử của Thiên Chúa, bằng sự thúc đẩy của ân sủng, là trước hết, thứ đến mới là hành động tự do của con người trong sự cộng tác của họ, cho nên các công trạng của các việc tốt lành trước hết phải được quy về ân sủng của Thiên Chúa, rồi mới quy ve tín hữu. Ngoài ra chính công trạng của con người phải quy về Thiên Chúa, bởi vì các việc tốt lành của họ đều diễn ra trong Đức Kitô, nhờ những khởi xướng và trợ giúp của Chúa Thánh Thần.

2009. Nhờ ân sủng, ơn được làm nghĩa tử cho chúng ta được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, có thể đem lại cho chúng ta một công trạng đích thực theo đức công chính nhưng không của Thiên Chúa. Đây là một quyền có được nhờ ân sủng, quyền sung mãn của tình yêu, làm cho chúng ta nên những người “đồng thừa tự” với Đức Kitô và xứng đáng được hưởng phần gia tài đã được hứa ban là đời sống vĩnh cửu [15] . Công trạng do các việc tốt lành của chúng ta là những hồng ân của lòng nhân hậu của Thiên Chúa [16] . “Ân sủng đã được ban trước, giờ đây nợ được trả.... Các hồng ân của Thiên Chúa là những công trạng của bạn” [17] .

2010. Vì sự khởi xướng trong lãnh vực ân sủng thuộc về Thiên Chúa, nên không ai có thể có công trạng gì để lãnh nhận ân sủng đầu tiên nơi cội nguồn việc hối cải, ơn tha thứ và sự công chính hóa. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần và của đức mến, chúng ta mới có thể lập công cho bản thân và cho tha nhân để được những ân sủng hữu ích cho việc thánh hoá, cho việc gia tăng ân sủng và đức mến của chúng ta, cũng như để đạt tới sự sống vĩnh cửu. Theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa, chúng ta cũng có thể lập công để đáng lãnh nhận những lợi ích trần thế, như sức khoẻ, tình bằng hữu. Những ân sủng và hồng ân này là đối tượng của kinh nguyện Kitô giáo. Việc cầu nguyện đem lại ân sủng cần thiết cho chúng ta để các hành động có được công trạng.

2011. Tình yêu Đức Kitô trong chúng ta là nguồn mạch mọi công trạng của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Ân sủng, khi kết hợp chúng ta với Đức Kitô bằng một tình yêu năng động, bảo đảm phẩm tính siêu nhiên của các hành vi của chúng ta và do đó, bảo đảm công trạng của các việc đó trước mặt Thiên Chúa cũng như trước mặt người ta. Các Thánh luôn ý thức mãnh liệt rằng các công trạng của các ngài hoàn toàn là ân sủng:

“Sau cuộc lưu đày trần thế, con hy vọng sẽ được về vui hưởng Chúa nơi Quê hương, nhưng con không muốn thu thập công trạng để được lên trời, con muốn làm việc chỉ vì tình yêu Chúa mà thôi.... Lúc cuộc đời xế bóng, con sẽ đến trước mặt Chúa với đôi bàn tay trắng, vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Mọi sự công chính của chúng con đều mang tì vết trước mắt Chúa. Vì vậy, con muốn được mặc lấy sự công chính của chính Chúa và đón nhận từ tình yêu Chúa phần sở hữu muôn đời là chính Chúa…” [18] .

Số 1046-1047: Sự sáng tạo một phần của vũ trụ mới

1046. Đối với vũ trụ, Mạc khải khẳng định rằng nhân loại và vũ trụ vật chất có chung một vận mệnh sâu xa:

“Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Ngài… Vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát… Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng … khi trông đợi sự cứu chuộc thân xác chúng ta” (Rm 8,19-23).

1047. Vì vậy, vũ trụ hữu hình được tiền định để chính nó được biến đổi: “Chính nó phải được phục hồi như tình trạng ban đầu, không có trở ngại nào, mà phục vụ những người công chính” [19] , trong khi tham dự vào sự tôn vinh họ trong Chúa Giêsu Kitô phục sinh.

2707. Có bao nhiêu bậc thầy tu đức thì có bấy nhiêu phương pháp suy niệm. Kitô hữu phải suy niệm đều đặn, để khỏi trở nên giống như ba loại đất đầu tiên trong dụ ngôn người gieo giống [20] . Nhưng phương pháp chỉ là người hướng dẫn mà thôi: điều quan trọng là chúng ta phải tiến bước, cùng với Chúa Thánh Thần, trên con đường duy nhất của cầu nguyện là Chúa Kitô Giêsu.

Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha trước khi đọc Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta dụ ngôn người gieo giống (xem Mt 13:1-23). Hình ảnh “gieo giống” là một hình ảnh rất đẹp mà Chúa Giêsu dùng để diễn tả món quà Lời của Người. Hãy tưởng tượng một hạt giống: rất nhỏ, người ta có thể khó nhìn thấy nó, nhưng nó lớn lên thành cây và sinh hoa trái. Lời Thiên Chúa là như thế; chúng ta hãy nghĩ đến Tin Mừng, một cuốn sách nhỏ, đơn sơ và trong tầm tay của mọi người, lại tạo ra sức sống mới cho những ai đón nhận. Vì thế, nếu Lời Chúa là hạt giống thì chúng ta là đất: chúng ta có thể đón nhận hoặc không. Tuy nhiên, Chúa Giêsu, “người gieo giống tốt”, không bao giờ mệt mỏi khi gieo một cách quảng đại. Người biết loại đất của chúng ta, Người biết rằng những viên sỏi của sự bất nhất và những gai góc của những thói xấu của chúng ta (x. cc. 21-22) có thể bóp nghẹt Lời, nhưng Người luôn hy vọng rằng chúng ta có thể sinh nhiều hoa trái (x. c. 8).

Đây là điều Chúa làm và đây cũng là điều chúng ta được kêu gọi thực hiện: gieo không mệt mỏi. Nhưng bằng cách nào, tiếp tục gieo mà không mệt mỏi? Chúng ta hãy lấy một số ví dụ.

Trước hết là các bậc cha mẹ: họ gieo lòng tốt và niềm tin cho con cái, và họ được mời gọi làm như vậy mà không nản lòng nếu đôi khi con cái có vẻ không hiểu họ và không đánh giá cao những lời dạy của họ, hoặc nếu não trạng của thế gian “chống lại họ”. Hạt giống tốt vẫn còn, đó mới là điều quan trọng, và nó sẽ bén rễ vào thời điểm thích hợp. Nhưng nếu vì mất lòng tin, họ từ bỏ việc gieo và bỏ mặc con cái cho thời trang và điện thoại di động, không dành thời gian cho chúng, không giáo dục chúng, thì mảnh đất màu mỡ sẽ mọc đầy cỏ dại. Các bậc phụ huynh thân mến, anh chị em đừng mệt mỏi gieo hạt giống tốt cho con cái!

Rồi chúng ta nhìn đến những người trẻ: họ cũng có thể gieo Tin Mừng trong những luống cày của cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn với việc cầu nguyện: đó là một hạt giống nhỏ bé không thể nhìn thấy được, nhưng khi họ phó thác tất cả cuộc sống của mình cho Chúa Giêsu, thì từ đó Người có thể làm cho họ trưởng thành. Nhưng tôi cũng nghĩ đến việc dành thời gian cho người khác, cho những người cần nhất: có vẻ như mất thời gian, nhưng đó là thời gian thánh, trong khi đó, những thỏa mãn dễ thấy của chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa khoái lạc khiến bạn trắng tay. Và tôi nghĩ đến việc học, tuy mệt mỏi và chẳng đáp ứng ngay lập tức, giống như khi bạn gieo hạt, nhưng nó rất cần thiết để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.

Chúng ta đã nhìn xem cha mẹ, xem những người trẻ, bây giờ chúng ta nhìn xem những người gieo giống Tin Mừng, nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân tốt lành dấn thân rao giảng, họ thường sống và rao giảng Lời Chúa mà không nhận thấy những thành công ngay lập tức. Chúng ta đừng bao giờ quên, khi chúng ta công bố Lời Chúa, rằng ngay cả khi dường như không có gì xảy ra, thì trong thực tế, Chúa Thánh Thần đang hoạt động và vương quốc của Thiên Chúa đã phát triển, ngang qua và vượt lên những nỗ lực của chúng ta. Do đó, hãy tiến bước với niềm vui! Chúng ta hãy nhớ đến những người đã gieo hạt giống Lời Chúa trong đời sống của chúng ta: mỗi người hãy nghĩ “đức tin của tôi khởi đầu thế nào?” Có thể nó đã cần nhiều năm để nẩy mầm sau khi chúng ta gặp những tấm gương của họ, nhưng nó đã xảy ra nhờ có họ!

Dưới ánh sáng của tất cả những điều này, chúng ta có thể tự hỏi: tôi có gieo điều tốt không? Tôi chỉ quan tâm đến việc gặt hái cho mình hay còn quan tâm đến việc gieo cho người khác? Tôi có gieo hạt giống Tin Mừng trong cuộc sống thường ngày: trong việc học, trong công việc, lúc thời gian rảnh rỗi không? Tôi nản lòng hay giống Chúa Giê-su, tiếp tục gieo, ngay cả khi tôi không thấy kết quả ngay lập tức? Xin Mẹ Maria, Đấng mà chúng ta tôn kính hôm nay là Đức Trinh Nữ Núi Cát Minh, giúp chúng ta trở thành những người gieo quảng đại và vui tươi của Tin Mừng.

Lời Chúa hôm nay nhấn mạnh đến sự phong phú của ơn Chúa. Tất cả mọi đất tốt, xấu đều được đón nhận hạt giống. Thế nhưng tùy theo thái độ của người đón nhận, của đám đất mà có những kết quả khác nhau. Lời Chúa cũng làm cho chúng ta phải suy nghĩ: chúng ta thuộc những loại người nào ? chúng ta có thật tâm nghe lời Chúa và đem ra thực hành cách trọn hảo không ? hay chỉ nghe qua mà không đem lại cho chúng ta một cách sống nào cho có kết quả.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, chúng con biết với sức phàm của chúng con, làm sao chúng con có thể hiểu được lời của Ngài, nếu không có ơn trên soi dẫn. Xin ban cho chúng con trí hiểu biết, tâm cảm nghiệm về Lời của Chúa

và đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Amen.

Ghi nhớ : “Ai có tai thì hãy nghe”.

Suy niệm 2: (Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

Lời Chúa là đèn soi bước đường chúng ta đi, là ánh sáng chỉ đường trong đêm tối và là lương thực nuôi linh hồn chúng ta. Lời Chúa được ví như hạt giống, tự nó có sức phát triển mạnh mẽ, nhưng hạt giống ấy, tuy là hạt giống hảo hạng có sức mạnh vô song, cũng cần có điều kiện thuận lợi để phát triển. Chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho hạt giống ấy nảy nở và phát triển. Chúa đòi chúng ta phải cộng tác vào trong công việc này.

Hạt giống Lời Chúa được gieo vãi khắp nơi một cách dồi dào, nhất là gieo vào lòng người. Hạt giống ấy có được tiếp nhận hay không, hoặc được tiếp nhận một cách ơ hờ lạnh nhạt, hoặc được tiếp nhận một cách trân trọng, thì hạt giống ấy được phát triển tùy theo thái độ của từng người. Chúng ta cố gắng biến thành thửa đất tốt để đón nhận hạt giống Lời Chúa, hy vọng hạt giống ấy sẽ sinh hoa kết quả, hạt sinh 30, hạt sinh 60 hay sinh 100 hạt khác.

Tâm hồn mỗi người là một thửa ruộng, và không có thửa ruộng nào là vô ích. Nhưng để thửa ruộng là mảnh đất phì nhiêu đòi hỏi mỗi người chúng ta phải ra công cày xới. Đương nhiên không có cuộc cày xới nào mà không đòi phải vất vả, long đong. Tâm hồn chúng ta sẽ không là mảnh đất sinh hoa trái, nếu chúng ta không chịu hy sinh, mất mát lo cày xới, gạn lọc, nhổ hết gai góc, nhặt đi những sỏi đá của ích kỷ hẹp hòi, của những đam mê hư hèn, của gian tham lừa lọc, của thù hận ghen tương.

Như vậy Lời Chúa hôm nay kêu gọi chúng ta đừng để tâm hồn mình thành sỏi đá, đường đi bởi do lòng ích kỷ và thói vô tâm, cũng đừng để tâm hồn mình là bụi gai bởi lòng tham những của hư hèn và tính ươn lười ngại hy sinh cố gắng, nhưng là hãy ra công cày xới cho hồn mình là mảnh đất phì nhiêu.

Dân Do thái đang phải sống trong cảnh lưu đày, niềm tin đang lụi dần, tiên tri Isaia được sai đến an ủi, khuyến khích và nói cho dân biết rằng Thiên Chúa đã hứa cho dân thoát cảnh lưu đày và được trở về quê hương.

Tuy thế, nhiều người Do thái tỏ ra nghi ngờ lời hứa đó, họ không thể tin được. Tiên tri Isaia phải nói cho họ biết tính chất phong phú của lời Chúa giống như mưa và tuyết thấm vào đất làm cho đất nên phì nhiêu thế nào thì lời Chúa luôn luôn hữu hiệu như vậy: Ngài đã nói thì thế nào cũng xảy ra đúng như lời Ngài đã nói, Ngài đã hứa thì chắc chắn Ngài sẽ thực hiện. Lịch sử đã minh chứng cho lời tiên tri Isaia: dân Do thái đã được hồi hương vào năm 538 trước công nguyên đúng như lời đã báo trước.

Trong đoạn thư gửi tín hữu Rôma mà phụng vụ hôm nay ghi lại, thánh Phaolô cố cho chúng ta hiểu thế nào là niềm hy vọng của người Kitô hữu. Tuy mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc được thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Niềm hy vọng của Kitô giáo là một sự chờ đợi, được thực hiện trong nước mắt khổ đau như một cuộc vượt qua cái chết.

Tuy sống trong cuộc đời đầy đau khổ nhưng Kitô hữu luôn lạc quan hướng về tương lai, chờ đợi ngày được hưởng ơn cứu độ viên mãn trong Nước trời.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về người gieo giống đi gieo lúa, để dạy rằng cũng một lời Chúa rao giảng nhưng sinh nhiều hiệu quả khác nhau là tùy theo thái độ đón nhận của các tâm hồn người nghe.

Để ý nhận xét, ta thấy người nông phu này gieo hạt giống xuống mọi loại đất, mặc dù biết trước là nhiều hạt sẽ không nảy mầm mọc lên. Điều đó có ý nói Thiên Chúa rất hào phóng sẵn sàng ban lời Ngài cho mọi người và ban cách quảng đại dồi dào.

Một nhận xét nữa là dụ ngôn kể ra 4 loại đất trong đó có tới 3 loại đất xấu. Điều đó có ý nói là có rất nhiều người không sẵn sàng đón nhận lời Chúa để cho lời ấy sinh hoa kết quả. Nhưng cũng có những người thiện chí biết đón nhận lời Chúa và đem ra thực hành để cho Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào: hạt sinh 30, 60, 100 hạt khác.

Qua bài dụ ngôn hôm nay, Giáo hội muốn nhắc nhở chúng ta phải nhận thức giá trị thiêng liêng của Lời Chúa, để nhờ đó chúng ta biết tha thiết lắng nghe và chăm chỉ đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Lời Chúa sinh hoa kết quả

Khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu rao giảng về Nước Thiên Chúa hay Nước trời. Đây là những ý tưởng quá trừu tượng mà thính giả phần lớn là dân quê, ít học, ngay các Tông đồ nòng cốt cũng ở trong tình trạng đó. Để diễn tả về Nước trời, Chúa Giêsu hay dùng dụ ngôn để giảng dạy, mỗi dụ ngôn diễn tả được một khía cạnh của Nước trời. Đây là một lối giảng dạy rất cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn, động não để đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng mà các nhà hiền triết thời xưa thường dùng để dạy các đồ đệ.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn người gieo giống đi gieo lúa để nói về hạt giống của Lời Chúa. Theo đó, Lời Chúa như hạt giống được gieo vào lòng mọi người để có thể phát triển và sinh hoa kết quả tùy theo thái độ đón nhận của từng người: có người không chấp nhận, có người chấp nhận với thái độ ơ hờ lạnh nhạt, có người đón nhận với lòng thành để Lời Chúa có thể sinh hoa kết quả dồi dào gấp 30, 60 hay 100 lần.

Thấu hiểu huấn lệnh Chúa truyền, Giáo hội đã khuyên nhủ chúng ta: “Thánh Công đồng Vatican 2 nhiệt liệt cổ vũ các tín hữu chuyên cần lắng nghe và đọc Thánh kinh, suy gẫm và sống Lời Chúa, vì đó là khoa học cao siêu dạy về Chúa Kitô. Vì theo thánh Giêrônimô: Dốt Thánh kinh là không hiểu biết về Chúa Kitô” (cf Verbum Dei # 25). Thánh kinh dạy cho chúng ta hiểu biết về Chúa, am tường về các mầu nhiệm cao cả của Nước Trời; hay nói cách khác, Thánh kinh là Lời Thiên Chúa nói với chúng ta, tỏ cho chúng ta thánh ý của Ngài.

Theo Mark Link, có ba bước trong việc lắng nghe Lời Chúa, mỗi bước một tiến hơn:

* Bước thứ nhất là nghe Lời Chúa. Chúng ta có thể gọi đây là bước của trí não. Bước này bao hàm việc chăm chú lắng nghe, đọc và giải thích Kinh thánh.

* Bước thứ hai là trân trọng tích giữ Lời Chúa. Bước này có thể được gọi là bước của trái tim, bao hàm việc ghi sâu vào lòng lời ta vừa nghe, và suy nghĩ xem có cách nào áp dụng lời ấy vào cuộc sống và làm sao để lời ấy biến cuộc sống của chúng ta nên tốt đẹp hơn. Bước thứ hai này không nhất thiết xảy ra tại nhà thờ. Nó có thể khởi sự tại nhà thờ, nhưng thường kéo dài suốt tuần lễ sau khi chúng ta suy nghĩ Lời Chúa đã nghe hôm Chúa nhật.

* Bước thứ ba là đem Lời Chúa ra thực hành. Nếu chúng ta gọi bước thứ nhất là của “trí não”, bước thứ hai là của “trái tim”, thì chúng ta có thể gọi bước thứ ba là bước của “linh hồn”. Bước này bao hàm tác động lên những gì trí óc chúng ta lãnh nhận và con tim chúng ta tích chứa giữ gìn.

Theo bài Tin mừng, Chúa Giêsu đã phân chia thành 4 loại đất mà người nông phu gieo hạt giống vào. Bốn loại đất ấy tiêu biểu cho 4 thái độ của con người trước Lời Chúa:

* Đất vệ đường: những kẻ chẳng thiết tha gì đến Lời Chúa. Lời gieo xuống đó chẳng bao lâu thì bị quỉ dữ cướp đi.

* Đất lẫn sỏi đá: những người mau mắn đón nhận Lời Chúa nhưng không quí chuộng bao nhiêu. Khi gặp chút gian khó là bỏ cuộc.

* Đất có nhiều gai: những người cũng đón nhận Lời Chúa, nhưng điều họ quan tâm hơn là những đam mê, vui thú, của cải... Các thứ sau này như gai góc um tùm dần dần làm cho Lời Chúa chết nghẹt.

* Đất tốt: những người sốt sắng đón nghe Lời Chúa, ghi sâu vào tâm hồn và quảng đại đem ra thi hành trong cuộc sống.

Mỗi người phải chuẩn bị đất tốt để đón nhận hạt giống Lời Chúa:

. Đất phải xốp: không cứng như vệ đường, tức là phải có tinh thần khao khát Lời Chúa như một nhu cầu của sức sống để lắng nghe, tìm hiểu và thực hành lời Chúa.

. Đất không có sỏi đá: tức là phải cất những chướng ngại vật như: sự lười biếng, thờ ơ, chểnh mảng Lời Chúa, bỏ các thành kiến, khuynh hướng xấu trong tâm hồn.

. Đất không có gai: tức là tâm hồn phải thanh thoả, không có những bồn chồn lo lắng về những sự ở đời như thú vui xác thịt, danh vọng, của cải vật chất... vì những cái đó là những gai góc bóp chết lời Chúa.

. Đất tốt: là tâm hồn khiêm nhường biết tin tưởng, trông cậy và yêu mến Lời Chúa để biến đổi đời sống (Lm. Trần Hữu Thành, Suy niệm Tin mừng Chúa nhật năm A, tr 218).

Hạt giống lời Chúa là thứ hạt giống tốt có thể phát triển mạnh. Lời Chúa có thể thay đổi được lòng người nhưng Chúa không muốn can thiệp vào đời tư của con người một cách thô bạo. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người.

Lời Chúa tự nó có sức mạnh vô biên. Ta có thể ví lời Chúa như nước chảy, nước rất mềm, nhưng có thể làm cho đá mòn như người ta thường nói: “Nước chảy đá mòn” (tục ngữ). Lời Chúa tuy êm ái nhẹ nhàng nhưng có sức bào mòn những gì gồ ghề trong tâm hồn để trở nên những viên đá tròn trịa.

Thiên Chúa cứ gieo hạt giống Lời Chúa vào lòng người, còn việc hạt giống đó có phát triển được hay không là do thái độ của tùng người có muốn cộng tác hay không.

Bà vợ đi lễ về làm cơm sáng hơi muộn làm cho người chồng khó chịu. Người chồng thì khô khan, thỉnh thoảng mới đến nhà thờ. Vợ thì siêng năng đi lễ để nghe Lời Chúa.

Bụng đang đói, chồng tức bực hỏi vợ:

- Em đi lễ hằng ngày như vậy để được cái gì?

- Được nghe Lời Chúa. Được Lời Chúa soi dẫn và rửa sạch tâm hồn em!

Vợ chỉ tay vào rổ rau mới rửa, trả lời:

- Vâng, nước đã làm cho bụi bặm rổ rau này sạch trơn!

Người chồng hiểu, lặng thinh và suy nghĩ!

Nếu được hỏi câu này, một người bàng quan nhìn chúng ta sống sẽ trả lời rằng: họ sống đạo bằng đọc kinh, bằng nhận lãnh các bí tích và bằng tham dự các lễ nghi.

Đúng vậy, người Công giáo chưa hoặc rất ít sống đạo bằng Lời Chúa. Nếu sống đạo bằng đọc kinh thì sau giờ kinh là hết sống đạo! Nếu sống đạo bằng lãnh nhận các bí tích thì có bao nhiêu dịp sống đạo đâu! Và nếu sống đạo bằng cách tham dự các lễ nghi thì sẽ không còn sống đạo khi ra khỏi nhà thờ! Vả lại, đạo ở các kinh đọc, trong các bí tích và trong những lễ nghi không thấm nhập vào cuộc đời, vào xã hội.

Đạo là đường, sống đạo là đi đường. Trong cuộc hành trình này. Lời Chúa chỉ hướng cho ta đi. Lời Chúa dạy ta giải quyết những tình huống như thế nào, Lời Chúa là kim chỉ nam đưa ta tới cùng đích (Lm. Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 387-388).

Truyện: Lời Chúa khắc ghi trong lòng

Hôm ấy, một nhà thừa sai Công giáo gặp một cậu bé người Ả rập trên đường từ trường về nhà. Nhà truyền giáo vui vẻ hỏi:

- Sao, hôm nay con học thêm được gì về sách Coran?

Mắt cậu sáng lên và mau mắn đọc thuộc lòng những câu trích từ sách Coran là sách thánh của các tín đồ Hồi giáo.

- Bây giờ, con thử viết những lời đó trên đất, để cha có thể hiểu dễ dàng hơn và học mau thuộc hơn không?

- Thưa cha, không được! Lời thánh phải được viết trong trí và ghi khắc trong lòng, chứ không thể viết trên đất được.

Theo tư tưởng của cậu bé đó thì Kinh thánh phải được ghi khắc trong tâm hồn, nghĩa là Lời Chúa phải thấm nhập vào lòng trí người Kitô hữu để họ phải sống bằng Lời Chúa.

Sống đạo là để cho Lời Chúa thấm nhập tâm hồn.

Sống đạo là để cho Lời Chúa hướng dẫn cuộc sống.

Sống đạo là để cho Lời Chúa tuôn trào ra cửa miệng và thấm nhuần môi trường sống.

Lắng nghe và thực hành Lời Chúa là điều cần thiết nhưng chưa đủ, chúng ta còn có sứ mạng rao giảng Lời Chúa cho người khác. Chúa Giêsu đã nói: “Nếu các con đã lành nhận nhưng không, thì cũng phải cho đi nhưng không” (Mt 11,08). Nếu bản chất của Hội thánh là truyền giáo thì bản chất của những thành viên trong đó cũng phải là truyền giáo.

Lời Chúa phải được chúng ta loan truyền để mang lại nhiều mùa gặt khác. Cũng như những hạt giống được gió đưa đi, rơi xuống và nảy mầm ở nơi xa, hạt giống Phúc âm phải được rải ra từ chính tấm lòng của chúng ta vào trong lòng anh em chúng ta. Nếu chúng ta giữ Lời Chúa cho riêng mình, chắc chắn chúng ta sẽ mất Lời Chúa. Hạt giống không phải được tạo ra để nằm trong một góc của bồ lúa, mà là để được nảy sinh trong những cánh đồng và cuối cùng là trên khắp thế gian.

Mỗi người chúng ta tùy theo ơn gọi, địa vị, chức vụ và khả năng, đều được Chúa mời gọi lãnh nhận sứ vụ rao giảng Lời Chúa, như hạt giống được gieo vào hồn chúng ta, như sức sống nuôi dưỡng làm cho triển nở tới thời sung mãn, để rồi sau đó lại phải gieo rắc sự dư tràn đó vào lòng những người khác. Đó là sứ mạng Chúa uỷ thác cho mỗi người chúng ta phải chu toàn.

Khi một người ra đi gieo Lời Chúa, người ấy không biết rõ việc mình đang làm và kết quả của hạt giống đó sẽ ra thế nào thì ông H.L. Gee đã thuật lại cho chúng ta câu chuyện sau đây:

Trong xóm đạo của ông, có một cụ già cô độc tên là Tôma. Cụ thọ hơn bạn bè của cụ nên không còn ai biết cụ nữa. Khi cụ Tôma qua đời, ông Gee nghĩ rằng không ai đi đưa đám cụ, nên ông quyết định đi để còn có người đưa cụ đến nơi an nghỉ cuối cùng. Không có ai đi đưa cả, hôm đó trời lại mưa dầm ướt lạnh. Khi quan tài đến nghĩa trang, có một quân nhân đứng ở cổng chờ, đó là một sĩ quan, nhưng trên áo mưa không thấy quân hàm. Quân nhân đó đứng bên huyệt dự lễ an táng. Xong lễ, ông ta tiến đến bên huyệt đưa tay lên chào theo nghi thức dành cho một vị vua. Rồi ông Gee và quân nhân đó ra về.

Khi họ đang đi, gió thổi bật cái áo mưa của vị sĩ quan và ông Gee thấy quân hàm của ông ta, quân hàm thiếu tướng. Vị sĩ quan nói với ông Gee:

- Có lẽ ông ngạc nhiên không hiểu tôi làm gì ở đây. Nhiều năm trước đây cụ Tôma là giáo viên dạy giáo lý ở trường tôi. Tôi là một thằng bé ngỗ nghịch và là một thứ gai nhức nhối cho cụ. Cụ không hề biết cụ đã làm gì cho tôi, nhưng cả đời tôi mang ơn cụ, và hôm nay tôi phải đến để nghiêng mình chào tiễn cụ lần cuối.

Ông Tôma không biết được việc mình đã làm, không một giáo sư hay nhà truyền giáo nào biết được. Công tác của chúng ta là gieo ra không chút nản lòng và phần còn lại hãy để cho Chúa định liệu.

Khi một người đi gieo giống, anh ta không thể và không được trông đợi có kết quả tức khắc. Trong thiên nhiên, sự tăng trưởng không bao giờ vội vã, phải mất một thời gian dài để hạt giống đơm bông kết trái, và có thể còn phải mất thời gian dài hơn nữa để hạt giống nảy mầm trong lòng người.

Chúng ta tin chắc rằng hạt giống Lời Chúa có sức tăng trưởng phi thường trong những môi trường thuận lợi. Công việc chúng ta là gieo, cứ gieo rồi để hạt giống mọc lên và khi đã mọc lên thì phát triển mạnh mẽ để sinh hoa trái dồi dào

Trong số những vị anh hùng xây dựng Hợp chủng quốc, phải kể đến Benjamin Franklin, tạ thế năm 1790. Ông là một văn sĩ, nhà ấn loát và xuất bản; lại còn là một nhà phát minh, một khoa học gia, thương gia và nhà ngoại giao. Một hôm, ông nhận được món quà từ Ấn Độ. Đó là một cây chổi bông lau. Nhìn cây chổi, ông thấy có vài hạt còn dính lại ở đó, ông đã nhặt ra và lấy đem gieo, thế là hạt giống nảy mầm, sinh hoa kết hạt. Tới mùa gặt, ông lại lấy những hạt giống đó đem phân phát cho các bạn bè xóm ngõ. Tất cả đều đem gieo, và chẳng bao lâu, Hoa Kỳ đã có một kỹ nghệ làm chổi bông lau phát đạt rải rác khắp nơi trong quốc gia. Đó cũng là nhờ Benjamin Franklin đã có sáng kiến, biết lợi dụng vài hạt giống nhỏ mọn.

Sau khi đã tìm hiểu lời Chúa, chúng ta phải quyết tâm lắng nghe, thực hành và phổ biến Lời Chúa cho người khác. Muốn cuộc đời chúng ta sinh hoa kết quả, muốn cho bản thân thành đạt trên đường đời, hãy kiểm tra ruộng lúa tâm hồn thường xuyên và kỹ lưỡng như người nông dân luôn biết săn sóc ruộng sạ của mình. Càng vất vả cày bừa, diệt cỏ, càng can đảm diệt tính hư nết xấu, Lời Chúa gieo xuống, càng đem lợi ích cho cuộc đời chúng ta.

Suy niệm 2: (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)

1. Trong một xứ sở tràn ngập ánh mặt trời, hết sức oi bức ở vùng sa mạc hoặc bán sa mạc, mọi người mọi vật, kể cả cây cối đều cảm thấy mát mẻ sau cơn mưa đầu tiên, và những hình ảnh ngôn sứ I-sai-a nói đến trong bài đọc chúng ta vừa nghe thật là sống động (có sức thuyết phục cao) : “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời, không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn.” Ở đây, ngôn sứ áp dụng hình ảnh này cho Lời của Thiên Chúa. Tính hiệu quả của lời Chúa là một chủ đề quan trọng trong Cựu Ước, cách riêng trong sách I-sai-a đệ nhị cũng được gọi là sách An Ủi dân Ít-ra-en (Is 40–55) mà bài đọc 1 hôm nay là phần kết thúc. Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa ngỏ lời và lời của Người luôn hữu hiệu : “Thiên Chúa phán : ‘Phải có ánh sáng.’ Liền có ánh sáng” (St 1,3) “Ngươi thấy đúng, vì Ta đang canh thức để thi hành lời Ta” (Gr 1,12). Từ “đa-va” trong tiếng Híp-ri vừa có nghĩa là lời nói vừa có nghĩa là biến cố. Vua Sa-lô-môn đã chúc lành cho dân Ít-ra-en bằng những lời sau đây : “Chúc tụng Đức Chúa, Đấng đã ban cho Ít-ra-en dân Người được nghỉ ngơi, đúng y như Người đã phán, không sai một lời nào trong tất cả những lời tốt lành Người đã dùng ông Mô-sê, tôi tớ Người, mà phán” (1 V 8,56).

2. Tính hiệu quả của lời Chúa không chỉ là đặc điểm của niềm tin Ít-ra-en, mà ở Ai-cập và vùng Lưỡng Hà, người ta cũng tin rằng lời của Thần Linh sáng tạo nên thế giới. Tuy nhiên, điều đặc sắc của Ít-ra-en là “những lời tốt lành” như vua Sa-lô-môn đã nói : “Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa ngỏ lời” để tự mặc khải và để ban sự sống và hạnh phúc cho con cái Người. Thiên Chúa của chúng ta không giống như các vị thần chỉ biết câm miệng một cách đáng thất vọng và không hề làm được gì để giúp đỡ chúng ta : “có mắt có miệng, không nhìn không nói” (Tv 115,5) ; “giả như có ai kêu (vị Thần giả hiệu), nó chẳng đáp lời, cũng chẳng cứu ai khỏi cơn khốn quẫn” (Is 46,7). “Thiên Chúa không phải là phàm nhân mà gian ngoa được, cũng chẳng là con người mà phải hối hận. Phải chăng Người nói mà không làm ? Hay Người phán mà không thực hiện ?” (Ds 23,19), “cỏ héo, hoa tàn, nhưng lời của Thiên Chúa chúng ta đời đời bền vững” (Is 40,8). Sự tin tưởng vào lòng trung tín của Thiên Chúa và lời của Người chính là niềm hy vọng của dân Ít-ra-en : “Không phải vì anh em công chính hay vì lòng anh em ngay thẳng mà anh em sắp được vào chiếm hữu đất của chúng ... Đức Chúa làm như vậy là để giữ vững lời Người đã thề với cha ông anh em là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp” (Đnl 9,5).

3. Từ đó chúng ta thấy chủ đề “lắng nghe” trong toàn bộ Kinh Thánh quan trọng như thế nào : Nếu Thiên Chúa ngỏ lời là để đem lại hạnh phúc cho chúng ta, việc của chúng ta là phải lắng nghe lời Người vì Người tôn trọng tự do của chúng ta : “Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống” (Is 55,3a). Lời của Chúa thì hữu hiệu, đó là ý nghĩa của bài đọc 1 hôm nay, nhưng với một điều kiện không thể thiếu là phải có thửa đất màu mỡ thì lời đó mới đem lại hiệu quả cho người nghe được (bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay : Mt 13,1-23).

Nếu đọc kỹ những câu phía trước bài đọc 1 hôm nay, chúng ta mới nhận thấy tính độc đáo của lời Thiên Chúa, là lời tha thứ và hoà giải : “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa, và Người sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ. Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi” (Is 55,6-8). Sứ mạng được bàn đến ở đây (“thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả”) là sứ mạng công bố sự tha thứ nhưng không của Thiên Chúa, và như thế là công bố sự hoà giải của nhân loại với Thiên Chúa là “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Do đó, Người đã sai Ngôi Lời đến thế gian : “Đây là Con Ta yêu quý, hãy vâng nghe Lời Người.”

Đến lượt mình, các môn đệ được sai đi như là những sứ giả của sự hoà giải : “Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải” (2 Cr 5,18). Thư Híp-ri cũng nói như thế : “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật” (Hr 1,1-3). Ngôi Lời không trở về cùng Cha mà không thành công, mà chưa hoàn thành sứ mạng hoà giải của Người, nhưng trong thực tế, Người đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng hoà giải nhân loại với Thiên Chúa qua cái chết trên thập giá, đã phục sinh và lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Thánh vịnh 64 là một lời tạ ơn long trọng mà dân Ít-ra-en dâng lên Thiên Chúa, vì Người là Đấng luôn lắng nghe dân cầu khẩn và tha thứ mọi lỗi lầm cho họ. Những câu trích thánh vịnh 64 hôm nay là phần cuối của thánh vịnh này, nói đến mùa xuân, sự sống. Đây là một lời chúc tụng Thiên Chúa, Đấng làm nên mùa xuân. Bên Đông Phương, nước là sự sống. Mùa xuân Do-thái là dấu chỉ đặc biệt của niềm vui. Cánh đồng múa hát, những luống cày, đồi núi, cỏ xanh, bông hoa, suối nước, đàn vật ... tất cả đều reo vui. Con người ngày nay, ngay cả những người đang sống trong các thành phố bê tông hoá, cũng không thể vô cảm trước loại hình ngôn ngữ này : các quảng trường thành phố chúng ta không giống nhau, các cửa kính, các siêu thị trang hoàng muôn hoa, các kệ hàng trong các cửa tiệm thực phẩm chất đầy những rau quả tươi, và cứ mỗi tuần vào mùa xuân chứng kiến người ta hối hả tuôn về miền quê, mang theo bầu khí lễ hội. Bài ca tụng sự sống này chỉ ở mức độ thiên nhiên. Tại sao chúng ta, những kẻ tin, lại không gặp Thiên Chúa ? Ta có thể phá huỷ thiên nhiên, nhưng ta không làm điều đó. Sinh thái học dạy ta phải biết tôn trọng những cân bằng trong thiên nhiên. Chẳng lẽ không có một Đấng Thượng Trí nào đó ở sau thiên nhiên sao ? Vậy tại sao ta không cầu nguyện với đôi mắt mở to trước một đồng cỏ hoặc trong một rừng cây ? Trước một khóm hoa hồng hay trước một cánh đồng lúa chín vàng ?

“Bánh và rượu, hoa màu của ruộng đất và lao công của con người.” Trong phần dâng lễ vật có lời đọc này diễn tả mối liên kết giữa Thiên Chúa và con người để làm nên bánh rượu. Thiên Chúa ban tặng sự sống, nhưng Người giao cho con người làm cho phát triển, làm chủ, bảo vệ và kiện toàn. Mỗi thánh lễ là nơi dâng lên Thiên Chúa mọi lao nhọc của ta. Nên nghĩ rằng Thiên Chúa đã chọn chúng ta không phải hoàn tất công trình tạo dựng của Người, nhưng để giao cho chúng ta làm cho vũ trụ thiên nhiên Chúa đã dựng nên ngày thêm tươi đẹp và hữu ích cho tất cả chúng ta.

Khởi đầu chương 8, thánh Phao-lô đã quả quyết rằng, nhờ sự phục sinh của Ðức Ki-tô, Thần Khí làm cho chúng ta trở thành nghĩa tử, nhờ đó chúng ta có thể được kêu lên : “Áp-ba, Cha ơi !” (Rm 8,15) và giải thoát chúng ta khỏi mọi nô lệ tội lỗi. Trong bài đọc 2 chúng ta vừa nghe, lời quả quyết về định mệnh hạnh phúc và vinh quang được nhấn mạnh hơn. Tuy nhiên, thánh Phao-lô nói rõ rằng việc đó chưa đến mà đang được thực hiện, nên hiện giờ ta vẫn còn gặp đau khổ trong cuộc lữ hành trần thế này. Một cơn đau đớn mà Kinh Thánh thường so sánh với cơn đau của người phụ nữ sắp sinh con (x. Mt 24,8) cần phải vượt qua vì chúng ta phải nhìn thấy đó là những dấu chỉ báo trước hạnh phúc trong tương lai. Điều thánh Phao-lô muốn nhấn mạnh là sự liên đới giữa thiên nhiên và nhân loại.

Con người và vũ trụ có cùng một số phận như nhau

Hiện nay khoa học về môi trường đạt tới thời hoàng kim rực rỡ, và từ nay về sau, việc bảo vệ môi trường sống của nhân loại luôn được đề cập tới trong các cuộc tranh luận xã hội, có lẽ người Ki-tô hữu của thế kỷ XXI nhạy cảm hơn tổ tiên chúng ta trước đây về sự liên đới giữa con người và vũ trụ mà thánh Phao-lô gợi ý. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong Thông điệp Laudato Sí đã đưa ra một cái nhìn mới về mối liên hệ giữa Thiên Chúa, nhân loại và trái đất. Người trích dẫn chương 8 của thư Rô-ma, trong đó thánh Phao-lô phác hoạ một tạo vật đã lâm vào cảnh hư ảo. Theo ý muốn của Đấng Tạo Hoá, con cái A-đam phải làm chủ mọi loài thụ tạo, nhưng vì việc này khiến cho vũ trụ thiên nhiên trở nên nô lệ cho tính ích kỷ của con người và làm ngược lại ý muốn của Chúa, vì thế cùng chìm đắm trong đau khổ, bất hạnh với nhau. Ta nhớ lại lời Thiên Chúa đã nói với ông A-đam : “Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng : ‘Ngươi đừng ăn’, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi ; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra” (St 3,17). Tuy nhiên, đã tới lúc nhân loại và vũ trụ, từ lâu đã liên đới với nhau trong bất hạnh, sẽ đồng hành với nhau trên con đường đi đến vinh quang và tìm lại được sự tự do. Cựu Ước đã gợi lên hình ảnh một cộng đoàn tràn ngập hạnh phúc và niềm vui nối kết nhân loại với thiên nhiên, vào một ngày lành tháng tốt, như ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Phải, các ngươi sẽ ra đi mừng rỡ hân hoan, rồi lũ lượt kéo về bình an vô sự. Trước mặt các ngươi, đồi núi sẽ cất giọng reo hò, cây cỏ ngoài đồng sẽ vỗ tay” (Is 55,12).

Bài Tin Mừng : Mt 13,1-23 : Dụ ngôn người gieo giống

1. Những câu chuyện trong chương 13 này quen gọi là “những dụ ngôn ven Biển Hồ về Nước Trời”. Thánh Mát-thêu gom lại tất cả 7 dụ ngôn. Đây là những câu chuyện đặt ra, dựa theo phong tục và nếp sống trong xã hội Do-thái ngày xưa, nhằm trình bày một giáo lý nào đó trong lãnh vực siêu nhiên. Giữa hình ảnh tự nhiên và giáo lý siêu nhiên có một điểm nào đó giống nhau, người đọc phải tìm cho ra, mới nắm được ý nghĩa khách quan của dụ ngôn.

Ý nghĩa nguyên thuỷ của dụ ngôn người gieo giống hình như nằm trong hạt lúa giống. Chúa Giê-su muốn nhấn mạnh hiệu năng của ơn Chúa (Nước Trời, Lời Chúa), việc Chúa làm sẵn có một tiềm lực đem lại hiệu quả gấp trăm. Nếu hiệu quả (mùa màng) không có hay không được như ý, thì đó không phải tại ơn Chúa (hạt thóc giống). Như vậy, dụ ngôn là một lời mời gọi tin tưởng vào sức mạnh của ơn Chúa, của việc Chúa làm.

2. Tại sao Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn mà nói ?

Dụ ngôn là một cách hé mở mầu nhiệm và khơi lên trong lòng thính giả niềm mong ước tìm hiểu thêm. Nhưng dụ ngôn không trình bày hết mầu nhiệm. Cho nên với những người có thiện chí, biết theo dõi sự tò mò thánh thiện thì dụ ngôn khai mở con đường dẫn tới mặc khải trọn vẹn ; còn với những kẻ thiếu thiện chí thì mầu nhiệm vẫn mãi là mầu nhiệm (x. Mt 7,6), đồng thời trở nên cơ hội làm cho họ ra chai lì hơn. Sự khác biệt này không phải tại Chúa. Người giảng dụ ngôn cho mọi người, nhưng tại những người nghe : một bên đi theo sự gợi ý của dụ ngôn, một bên không.

* “Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa ; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi” : Có lẽ phải hiểu về những người Ít-ra-en thời Chúa Giê-su là những kẻ đang có đức tin truyền thống – đức tin này hướng về Đấng Mê-si-a như đối tượng chính – nhưng trong số này có những người nghe theo Chúa Giê-su thì được cho thêm, tức là được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn những người khác thì ngay cái đang có, tức là lòng tin truyền thống, cũng sẽ bị lấy mất.

Lời trích sách ngôn sứ I-sai-a cho thấy rằng tình trạng dân Ít-ra-en thời Chúa Giê-su cũng giống như thời ngôn sứ I-sai-a, cũng như sứ vụ của ông I-sai-a, lời giảng của Chúa Giê-su đã nên dịp cho dân Ít-ra-en cứng lòng và đổ vỡ (x. Lc 2,34). Thánh Mát-thêu thấy cách Chúa Giê-su giảng cho giới bình dân bằng dụ ngôn như thế đã được tiên báo trong lời sấm của thánh vịnh 78,2 : “Mở miệng ra, tôi sẽ nói đôi lời huấn dụ, công bố điều huyền bí thuở xa xưa.” Thật ra, tác giả thánh vịnh này có ý nói đến lịch sử Ít-ra-en từ khi ra khỏi Ai-cập cho đến triều đại vua Đa-vít, và đưa ra ánh sáng những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện trong thời kỳ đó, để khuyến khích mọi người thượng tôn luật pháp của Chúa và trung thành với vua. Thánh vịnh được áp dụng vào Chúa Giê-su theo nghĩa : những sự việc lịch sử xưa là hình bóng báo trước những thực tại Nước Trời, mà Chúa Giê-su trình bày qua các dụ ngôn, và việc thiết lập triều đại vua Đa-vít cũng báo trước việc Chúa Giê-su thiết lập Nước Trời.

* Giải thích dụ ngôn người gieo giống

Theo Mc 4,10 và Lc 8,9 thì các môn đệ hỏi Chúa về ý nghĩa dụ ngôn người gieo giống. Chúng ta có thể hiểu rằng lời giải thích là của Giáo Hội muốn biến dụ ngôn về lời Chúa thành dụ ngôn về thái độ khác nhau của những ai đón nghe lời Chúa. Một khi đã chấp nhận tiềm năng của lời Chúa (có thể sinh sôi nảy nở gấp trăm), mỗi tín hữu phải cộng tác tối đa để Lời ấy thật sự mang lại kết quả tối đa.

Kết : Lời Chúa có một tầm quan trọng vô cùng đặc biệt trong đời sống Hội Thánh cũng như trong đời sống đức tin của từng người tín hữu chúng ta, và vì sống đạo là sống theo lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong các Tin Mừng, vì khi siêng năng đọc lời Chúa, lắng nghe lời Chúa, suy niệm và đem ra thực hành trong đời sống đức tin thường ngày, người tín hữu chúng ta sẽ xây dựng ngôi nhà đức tin của mình trên nền đá tảng vững chắc, dù phong ba bão táp mạnh đến đâu, cũng không làm cho ngôi nhà đó sụp đổ.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đức Tổng Giu-se của chúng ta đã tặng cho mỗi gia đình tại Tổng giáo phận thành phố này một quyển Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, với ước mong tha thiết là anh chị em hãy đọc lời Chúa mỗi ngày trong gia đình, để lời Chúa thấm nhập và biến đổi mỗi người chúng ta ngày càng nên giống Chúa Giê-su hơn trong đời sống yêu thương và phục vụ.

Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ chúng con, chúng con dâng lời ca tụng Chúa, thật là điều phải đạo, vì nhờ Đức Ki-tô, Chúa đã viếng thăm trái đất này và cho thiên hạ được no đầy ơn phúc. Những nơi đã khô cằn vì tội lỗi, Chúa đổ mưa ân sủng chứa chan ; những nơi Giáo Hội đã dày công gieo vãi, Chúa cho một mùa gặt phong phú dồi dào. Ước chi mọi người trên thế giới, nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn, biết nhận ra những việc kỳ diệu Chúa đã làm, mà không ngừng cất tiếng ngợi khen.

Trong đời sống đức tin thường ngày, anh chị em có thường xuyên đọc lời Chúa và đem ra thực hành chưa ?

1. Gieo Lời Chúa với lòng can đảm và hào phóng

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Ta có thể rút ra được một bài học nữa từ dụ ngôn người gieo giống. Thái độ của người có trách nhiệm loan báo Lời Chúa. Đức Giê-su cảnh báo họ trước một cám dỗ : chỉ lo phân tích đất đai, đoán xét lòng người và hoàn cảnh, chuẩn bị sao cho đất sinh hoa kết trái. Vì thế, họ có khuynh hướng dành hạt giống cho thửa đất tốt, loại trừ những thửa đất xem ra không xứng đáng hoặc không có khả năng đón nhận Lời Chúa … Sau cùng dụ ngôn nói rằng chính hạt giống bộc lộ phẩm chất của đất đai. Hạt giống không chỉ dành riêng cho đất tốt, cho những người lành, cho những người tốt, trong những hoàn cảnh rõ ràng, sau khi các vấn đề quân bình, công bằng, phát triển, lương thiện, luân lý … đã được giải quyết. Ta vẫn thường bị cám dỗ : “Làm thế có ích gì ?” “Với những người này, trong hoàn cảnh ấy, ta chẳng có gì để làm.” Không, phải tung gieo Lời Chúa với lòng can đảm và sự hào phóng. Chính Thiên Chúa chứ không phải ta, sẽ thăm dò các tâm hồn. Ta vẫn thường ngạc nhiên : Lời Chúa bộc lộ đáy lòng thầm kín của con người. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các thượng tế và các tiến sĩ luật.

2. Người gieo giống kỳ lạ, vừa là người gieo, vừa là người bị gieo

(H. Denis, “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer).

Dụ ngôn đưa vào cuộc một Thiên Chúa còn có nhiều điều để nói với ta, dù đã có nhiều bình luận, giải thích, để ta bắt đầu bằng những bình luận, giải thích của chính Tin Mừng.

Quả thật, người ta có khuynh hướng lái dụ ngôn ra khỏi ý nghĩa quan trọng nhất khi biến nó thành, không phải dụ ngôn Người gieo giống nữa, nhưng là dụ ngôn về chất đất. Điều đó hợp pháp vì đó là một lối đọc do tác giả Tin Mừng đề nghị, một lối đọc theo luân lý, cảnh báo về những thái độ của con người khi đón nhận Lời Chúa, để Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào. Hãy nhớ lại lối giải thích và áp dụng do nhóm “Hành động Công Giáo” đề nghị, ứng vào những “cảnh vực đời sống”.

Nhưng ta hãy trở lại với Người gieo giống.

Tôi muốn rút ra từ hình ảnh người gieo giống, mà những con tem Pháp luôn minh hoạ bằng người phụ nữ, một vài đặc điểm của Thiên Chúa chúng ta.

Trước hết, Thiên Chúa của Đức Giê-su trao ban Lời của Người có lẽ như một “hơi thở mong manh”. Nhưng Người đã trao ban. Người không giữ Lời cho riêng mình. Người cho nó mặc lấy hình hài trong thửa đất của con người.

Kế đó, Thiên Chúa gieo lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện. Cũng cần thêm rằng, người gieo hào phóng đến độ chẳng cần nhìn chỗ hạt giống rơi : trên đường đi, trong đá sỏi, trong gai góc, trên đất mỏng … nghĩa là, gieo khắp nơi. Đương nhiên có nhiều hạt giống chết đi. Người gieo giống là kẻ đầu tiên thực hành câu nói thời danh : Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mạng sống sẽ gặp được sự sống.

Thật kỳ dị, vì người gieo giống vừa là người gieo, vừa là người bị gieo. Làm sao quên được rằng Đức Giê-su là hạt giống gieo vào lòng đất ? Làm sao tin vào sự phong nhiêu của Người nếu ta từ chối cái chết của Người ?

Đức Giê-su không chỉ là cánh tay Thiên Chúa tung gieo Lời Hằng Sống. Chính Đức Giê-su là hạt lúa mì đã chôn vùi vào thửa đất có cả cỏ lùng của ta và tan biến trong lòng đất, để phục sinh trong muôn ngàn bông lúa.

Chính vì thế mà mùa gặt đỏ ối dưới ánh mặt trời Tin Mừng sẽ được thu hoạch, khi Thiên Chúa muốn, vào những kho lẫm của tình yêu vĩnh cửu.

Suy niệm 3: (Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ.)

Nơi bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu kể dụ ngôn người gieo giống.

Trước hết Ngài kể dụ ngôn này cho dân chúng và môn đệ (Mt 13,3-8).

Sau đó Ngài giải thích riêng cho môn đệ về ý nghĩa của dụ ngôn này

Dụ ngôn Ngài kể rất gần gũi với cuộc sống của người đương thời.

Câu chuyện về một người gieo hạt giống ở những loại đất khác nhau,

nên chúng cũng mang lại những hiệu quả khác nhau.

Có những hạt rơi trên vệ đường, đất cứng nên hạt nằm chơ vơ ở trên.

Chúng dễ dàng làm mồi cho lũ chim trời đến ăn mất.

Có những hạt rơi trên sỏi đá, chỉ có một lớp đất mỏng ở trên.

Chúng mọc ngay, nhưng không sao bén rễ sâu được.

Lớp đá sỏi khiến rễ không hút đủ nước để nuôi cây.

Khi nắng nóng nổi lên, cây lúa bị cháy rụi và chết khô.

Cây lúa mọc lên, nhưng bụi gai lại mọc lên mạnh hơn lúa,

lấn át và làm cây lúa không lớn lên được và bị chết nghẹt.

Cả ba trường hợp trên đều cho thấy sự thất bại.

Các hạt giống rốt cuộc chẳng đem lại được gì.

May mắn thay có những hạt rơi vào đất tốt.

Đất không quá cứng, không sỏi đá, không bụi gai.

Những hạt này đã đem lại mùa bội thu vượt quá lòng mong đợi.

Một hạt thành gấp trăm, gấp sáu mươi hay gấp ba mươi.

Dụ ngôn Đức Giêsu kể cho đám đông dân chúng chỉ có thế.

Sau đó Ngài giải thích cho các môn đệ để họ hiểu (Mt 13,18-23).

Đức Giêsu chính là người gieo hạt giống.

Hạt giống là lời giáo huấn của Ngài.

Mỗi loại đất tượng trưng cho tâm hồn của một hạng người.

Có loại tâm hồn “vệ đường” cứng cỏi, khép kín, không chịu đón nhận.

Có thể xếp một số người trong nhóm Pharisêu vào loại này.

Họ đã tố cáo Đức Giêsu là liên minh với quỷ (Mt 9,34; 12,24).

Một số người ở các thành vùng Galilê cũng thuộc hạng người này,

vì họ đã không chịu hoán cải khi nghe Đức Giêsu (Mt 11,20-24).

Có loại tâm hồn “sỏi đá” nông nổi nhất thời, không bám rễ sâu trong đất.

Khi nghe lời của Đức Giêsu, họ lập tức đón nhận với niềm vui.

Nhưng khi gặp thử thách, bách hại, thì họ tháo lui và vấp ngã.

Đây là hình ảnh của đám đông chạy theo Đức Giêsu khi Ngài thành công,

Nhưng chẳng ai thấy họ trong những ngày Ngài bị bắt.

Có loại tâm hồn “bụi gai” làm cho lời Đức Giêsu bị bóp nghẹt.

Gai là nỗi lo âu chuyện đời và mê đắm danh vọng của cải.

Anh thanh niên giàu có đã không thể đáp lại lời mời của Đức Giêsu,

không phải vì có nhiều của cải, mà vì gắn bó với của cải quá mức.

Cả ba loại người trên đều nghe lời của Đức Giêsu,

nhưng lời ấy bị thui chột, không sinh được hoa trái nào.

Chỉ ai có tâm hồn “đất tốt” mới thật sự nghe và hiểu, rồi sinh trái.

Là môn đệ của Đức Giêsu, họ đã mở lòng đón nhận hạt giống.

Mùa bội thu lớn lao mà họ đem lại khiến ta có niềm lạc quan vô bờ.

Lời Đức Giêsu tung gieo sẽ thành công mỹ mãn,

bất chấp việc có những hạt giống rơi vào chỗ không phù hợp.

Qua dụ ngôn này, Giáo Hội sơ khai hiểu Đức Giêsu muốn nhắn nhủ gì.

Và đối với chúng ta, bài học của dụ ngôn vẫn không mất đi tính hiện đại.

Lời Chúa đã được gieo vào tim ta lại bị ác thần cướp mất.

Lời Chúa được đón nhận hời hợt và nông cạn nên chẳng biến đổi gì.

Lời Chúa bị bóp nghẹt bởi lo lắng cơm áo gạo tiền, bởi đam mê vật chất.

Làm sao để cải tạo mảnh đất tâm hồn mình?

Làm sao để mảnh đất của mình mềm hơn, ít sỏi đá và gai góc hơn?

Có được tâm hồn như mảnh đất tốt không phải là chuyện tự nhiên.

Cần cộng tác với ơn Chúa để từ từ cải tạo mảnh đất của trái tim (Mt 13,19).

Mỗi người chạy theo điều mình đang mải mê kiếm tìm.

Chúng con tự hỏi mình đang tìm kiếm gì, tìm kiếm ai,

đâu là hướng đi, đâu là lý tưởng đời mình.

Chúng con thấy rằng những giá trị của thế gian

chiếm chỗ lớn trong những ước mơ của chúng con.

Tiền bạc , danh vọng, khoái lạc, quyền lực

vẫn là những điều làm chúng con ngây ngất say mê.

Cha vẫn không có chỗ cao nhất trong cuộc đời của chúng con.

Lạy Cha, xin ban cho chúng con ơn hoán cải.

Xin đánh thức chúng con khỏi cơn mê.

Xin làm cho chúng con tỉnh ngộ để nhận ra giá trị đích thực.

Xin dạy chúng con biết kiếm tìm Cha,

những ước mơ sâu kín của chúng con,

và cho chúng con được hạnh phúc viên mãn.

Suy niệm 4: (Lm. Nguyễn Vinh Sơn SCJ)

Một hôm, Benjamin Flanklin nhận được món quà từ Ấn Độ. Đó là một cây chổi bông lau. Nhìn cây chổi, ông thấy có vài hạt còn dính lại ở đó, ông đã nhặt ra và lấy đem gieo, thế là hạt giống nảy mầm, sinh hoa kết hạt. Tới mùa gặt, ông lại lấy những hạt giống đó đem phân phát cho các bạn bè xóm ngõ.

Tất cả đều đem gieo và chẳng bao lâu, Hoa Kỳ đã có một kỹ nghệ làm chổi bông lau phát đạt rải rác khắp nơi trong quốc gia. Đó cũng là nhờ Benjamin Franklin đã có sáng kiến, biết lợi dụng vài hạt giống nhỏ mọn.

Đất nông nghiệp Do Thái có rất nhiều đá. Cho nên, việc lượm đá là một công việc quen thuộc trong việc làm của nhà nông Israel cũng như việc làm cỏ. Ðá lượm ra xếp thành bờ ngăn các thửa ruộng, do đó mép bờ cũng là nơi gai mọc, nơi đó thiếu nước, chỉ có gai có sức chịu khô lâu nhất nên sống và phát triển được.

Vì những đặc điểm như thế, nên khi người nông dân vung tay gieo hạt: Lúa giống sẽ rơi trên đất đá, mặt lối đi, bụi gai và đất tốt...

Muốn gieo cho kín ruộng, người nông dân phải chấp nhận có sự hao hụt vì một số nào đó sẽ rơi vào ba loại vị trí không kết quả: “Xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất”. “Hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt”...

Thiên Chúa phân phát thật rộng rãi để hạt giống được phủ kín mảnh ruộng qua hình ảnh người nông dân gieo giống, dù rằng đôi lúc có phung phí ân sủng, Ngài mong ít ra có những hạt giống rơi trên đất tốt…

Sự quảng đại của Chúa trong việc ban phát mọi ơn lành cho chúng ta làm cho chúng ta an tâm và tin tưởng vào tình yêu của Ngài. Ngài không bao giờ rút lại tình yêu, chỉ có chúng ta từ chối: Không chịu nhặt đá nên hạt giống hồng ân không bén rễ sâu nên chết khô hoặc bóp nghẹt không cho tình yêu Ngài triển nở trong chúng ta khi không tận lực nhổ cỏ lùng.

Biết rằng đời mình còn nhiều sỏi đá, cỏ lùng, đừng thất vọng mà để hoang tàn, nhưng xin vẫn cứ chăm chỉ: Chăm chỉ nhặt sỏi, chăm chỉ nhổ cỏ, vun trồng chuẩn bị tốt cho mảnh đất của đời mình để sẵn sàng đón nhận hạt giống được gieo trong mùa màng hồng ân. Và khi mùa gặt tới, mong rằng, mảnh đất đời tôi, đời bạn nuôi dưỡng giống, ít nhất cho những hạt sinh được ba mươi….

1 That same day Jesus went out of the house and sat beside the sea.

2 And great crowds gathered about him, so that he got into a boat and sat there; and the whole crowd stood on the beach.

3 And he told them many things in parables, saying: “A sower went out to sow.

4 And as he sowed, some seeds fell along the path, and the birds came and devoured them.

5 Other seeds fell on rocky ground, where they had not much soil, and immediately they sprang up, since they had no depth of soil,

6 but when the sun rose they were scorched; and since they had no root they withered away.

7 Other seeds fell upon thorns, and the thorns grew up and choked them.

8 Other seeds fell on good soil and brought forth grain, some a hundredfold, some sixty, some thirty.

10 Then the disciples came and said to him, “Why do you speak to them in parables?”

11 And he answered them, “To you it has been given to know the secrets of the kingdom of heaven, but to them it has not been given.

12 For to him who has will more be given, and he will have abundance; but from him who has not, even what he has will be taken away.

13 This is why I speak to them in parables, because seeing they do not see, and hearing they do not hear, nor do they understand.

14 With them indeed is fulfilled the prophecy of Isaiah which says: 'You shall indeed hear but never understand, and you shall indeed see but never perceive.

15 For this people's heart has grown dull, and their ears are heavy of hearing, and their eyes they have closed, lest they should perceive with their eyes, and hear with their ears, and understand with their heart, and turn for me to heal them.'

16 But blessed are your eyes, for they see, and your ears, for they hear.

17 Truly, I say to you, many prophets and righteous men longed to see what you see, and did not see it, and to hear what you hear, and did not hear it.

18 “Hear then the parable of the sower.

19 When any one hears the word of the kingdom and does not understand it, the evil one comes and snatches away what is sown in his heart; this is what was sown along the path.

20 As for what was sown on rocky ground, this is he who hears the word and immediately receives it with joy;

21 yet he has no root in himself, but endures for a while, and when tribulation or persecution arises on account of the word, immediately he falls away.

22 As for what was sown among thorns, this is he who hears the word, but the cares of the world and the delight in riches choke the word, and it proves unfruitful.

23 As for what was sown on good soil, this is he who hears the word and understands it; he indeed bears fruit, and yields, in one case a hundredfold, in another sixty, and in another thirty.”

1 Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ.

2 Có đám đông lớn tụ họp bên Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn toàn thể đám đông thì đứng trên bờ.

3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Người nói : “Kìa người gieo giống ra đi gieo giống.

4 Trong khi người ấy gieo,thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.

5 Có những hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất; nó mọc ngay, vì đất không sâu;

6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rể nên bị chết khô.

7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt.

8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gâp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.

10 Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giêsu rằng: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?

11 Người đáp: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không.

12 Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất.

13 Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu

14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy.

15 Vì lòng dân này đã ra đần độn, chúng đã nặng tai, còn mắt thì chúng nhắm lại, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành.

16 “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe.

17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em. nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe , mà không nghe.

18 “Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống.

19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỵ dử đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường.

20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận.

21 Nhưng nó không đâm rể mà là kẻ nhất: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay.

22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh quang phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì

23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục”.

Despite the traditional title as the parable of “the sower”, the real focus is on the seeds and their respective yields. The assumption is that all the seeds are good, the problem is the type of soil in which the seeds have been sown. There is a clear contrast between the ideal disciples who accept and understand the word against those who neither accept nor act upon Jesus' preaching for various reasons: evil activity, personal shallowness, worldly concerns, or desire for wealth. According to the traditional Palestinian farming practices, sowing often precedes plowing. We can assume that the sower intended to come back and plow the seeds into the soil. Nevertheless when the seeds already fall on the bad soil they still cannot yield fruitfully even with plowing. Mt 13:1-52 features seven parables, the subject matter of the parables is the kingdom of heaven. Every parable except the parable of the sower begins with the phrase: “The kingdom of heaven is like...” However the parable of the sower also clearly shows responses to the kingdom of heaven.

Mặc dầu truyền thống vẫn gọi đề tài của dụ ngôn là “người gieo giống,” nhưng chủ yếu là hạt giống và những hoa lợi thu hoạch được. Hạt giống tất nhiên hoàn hảo, đất để gieo mới là vấn đề. Có một sự khác biệt rõ ràng giữa các tông đồ lý tưởng đón nhận và hiểu Lời Chúa, và những kẻ không đón nhận hoặc hành động theo lời Chúa Giêsu dạy vì nhiều lý do: ma quỵ, hời hợt, lo lắng sự đời và vinh quang phú quý. Theo truyền thống canh nông của người Palestine thời đó, gieo giống thường trước khi cày. Vì vậy người gieo giống có thể sẽ trở lại để cày cho hạt giống cắm sâu xuống đất. Tuy nhiên khi hạt giống đã rơi vào đất xấu thì dầu có cày cũng vẫn không thâu hoạch được gì. Chương 13 (Mt 13:1-52) trong Phúc Âm thánh Matthêu gồm có bảy dụ ngôn, chủ yếu là giải thích về Nước Trời. Mỗi dụ ngôn đều bắt đầu bằng câu: “Nước Trời giống như...” ngoại trừ dụ ngôn người gieo giống. Dầu vậy dụ ngôn người gieo giống cũng cùng một chủ đích là trình bày những lối đáp trả của mỗi người về Nước Trời.

The word of the Lord is the seed, our hearts and minds are the soil. The good spiritual yield in life depends on how much a person willingly accepts and responds to the word of the Lord. The yield arising from the positive response will be abundant beyond all imagination.

Lời Chúa là hạt giống, tâm trí chúng ta là đất để gieo. Thành quả tốt đẹp trong đời sống tinh thần tùy thuộc thiện chí mỗi người đáp lại tiếng Chúa. Kết quả gặt hái từ thái độ tích cực đáp trả thì dồi dào ngoài sức tưởng tượng.

Deep down in my heart, where do I fit in with the four types of soil in the parable? What are the reasons? In order to let Jesus' word yield abundantly in my spiritual life, what changes do I have to make in my relationship to God and to others, in my interest, and in my career? Imagine I am attending a Sunday's Mass, a priest is delivering a sermon as a sower is sowing the seeds, my ear and my mind is listening to the word as the soil is receiving the seeds. Am I prepared to receive the word? How much do I absorb? Do I still vividly remember the word after leaving the Mass? A week after? How can I become the good soil ready to receive the word?

Tự đáy lòng mình, tôi thuộc loại người nào trong bốn loại đất đề cập trong dụ ngôn? Vì lý do gì? Để Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào trong đời sống tinh thần, tôi cần thay đổi những gì trong liên hệ với Chúa và tha nhân, trong sở thích, trong nghề nghiệp. Hãy tưởng tượng tôi đang dự thánh lễ Chúa Nhật, vị linh mục đang giảng ví như người đi gieo giống, và tôi đang dùng tai và trí để lắng nghe cũng giống như mảnh đất chờ hạt giống. Tôi có sửa soạn để đón nhận lời giảng không? Tôi thâu nhận được bao nhiêu? Tôi còn nhớ gì không khi ra về? Một tuần sau đó? Làm thế nào để tôi trở thành đất tốt luôn sẵn sàng đón nhận?

Thông tin bài viết
Nguồn đăng:TGP Sài Gòn
Bài liên quan